Sunday, 20/10/2019 - 13:16|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường TH Số 3 Phước Thuận

PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

Vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn khoa học

Như chúng ta đã biết, mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi lối dạy học truyền thụ  một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực”, với các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho học là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con người mới tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống.

Vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn khoa học

Như chúng ta đã biết, mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi lối dạy học truyền thụ  một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực”, với các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho học là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con người mới tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống.

 “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội. Khoa học là một  môn học gắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của con người. Vì vậy phương pháp Bàn tay nặn bột chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HS bằng các thí nghiệm, hiểu biết tìm tòi, nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu...Với một vấn đề khoa học đặt ra, HS có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức. Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp Bàn tay nặn bột luôn coi HS là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của GV. Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp Bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS. Phương pháp Bàn tay nặn bột cho thấy cách thức học tập của học sinh là tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xung quanh mình qua việc tham gia các hoạt  động nghiên cứu tìm tòi. Các hoạt động nghiên cứu, tìm tòi gợi ý cho học sinh tìm kiếm để rút ra các kiến thức cho riêng mình, qua sự tương tác với các học sinh khác cùng lớp để tìm phương án giải thích các hiện tượng.

         Giáo viên có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng, gợi ý, giúp đỡ các em tự khám phá, tự đặt ra các câu hỏi để học sinh hiểu rõ được câu hỏi và vấn đề cần giải quyết của bài học, từ đó đề xuất các phương án thực nghiệm hợp lí.

Không chỉ trong phương pháp Bàn tay nặn bột mà dù dạy học bằng bất cứ phương pháp nào, việc học sinh hiểu rõ vấn đề đặt ra, những vấn đề trọng tâm cần giải quyết của bài học luôn là yếu tố quan trọng và quyết định sự thành công của quá trình dạy học

Trong quá trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột để thực sự có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên và học sinh cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

     - Các em cần được quan sát một số sự vật, hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi, dễ cảm nhận và tiến hành thực nghiệm về chúng.

    - Trong quá trình học tập, các em tự lập luận và đưa ra các lý lẽ, thảo luận những ý nghĩ và các kết quả đạt được trên cơ sở xây dựng kiến thức cho mình. Một hoạt động mà hoàn toàn chỉ dựa trên sách vở là không đủ.

     -  Các hoạt động giáo viên đề ra cho học sinh được tổ chức trong các giờ học nhằm đến một sự tiến bộ trong học tập. Các hoạt động này gắn với chương trình và dành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh.

     -  Mỗi học sinh có một quyển vở ghi chép thí nghiệm và các em trình bày trong đó bằng ngôn ngữ của riêng mình.

    - Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học được thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết.

 

           *Bản chất của việc dạy – học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

          Dạy học theo phương pháp Bàn tay năn bột, các em có thể tiến hành những nghiên cứu dẫn đến sự hiểu biết. Nhưng các em cần được hướng dẫn và giúp đỡ bởi các câu hỏi của thầy giáo và hoạt động trong khuôn khổ một đề tài đã được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các “cơ hội”. Trong quá trình nghiên cứu, học sinh phải sử dụng tất cả các giác quan để tìm ra tri thức mới.Các em cần có vở ghi chép cá nhân để ghi lại những ý tưởng của mình, những điều đã được sửa chữa lại, cho phép giữ lại vết tích của những thử nghiệm liên tiếp, đánh dấu được tiến trình nghiên cứu.Vở ghi chép được học sinh giữ suốt trong thời gian học Tiểu học và cuối cấp học sẽ hình thành một tập vở ghi nhớ đặc biệt.

Như vậy bản chất của  Bàn tay nặn bột không phải là phương thức mới cho phép các em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em một cách xử lý độc lập, có phần nào giống như một nhà nghiên cứu. Khi xử lý độc lập, học sinh sử dụng giác quan và một số dụng cụ hỗ trợ cho các thao tác trí tuệ.

     Dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột không đòi hỏi phải sử dụng những dụng cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đây không quá tốn kém, đa số là các vật dụng dễ kiếm và dễ sử dụng, không nặng nề. Nó được sử dụng hàng ngày với vài vật liệu đơn giản là đủ. Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn giản và không cần có hiểu biết kĩ thuật gì đặc biệt. Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của cây trồng bằng cách thay đổi các thông số : đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí, bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực nghiệm. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có thể có những kết luận khác nhau.Và trong quá trình ấy, học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc: Tại sao trời lại có gió? Vì sao lai có mưa?có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần đến yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên nhựa, tờ giấy?...Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây ?....

*Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học.

a. Giáo viên

Thực tế, phương pháp Bàn tay nặn bột  không hoàn toàn là mới đối với các giáo viên. Về cơ bản, đây là phương pháp tổng hợp của các phương pháp dạy học trước đây mà giáo viên đã từng tiếp xúc như: phương pháp giảng dạy giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học tích cực... Trong phương pháp này, yêu cầu đặt ra đối với giáo viên là:

- Tạo tình huống để học sinh phát hiện ra vấn đề trong bài học, từ đó để các em tự đưa ra các tình huống giải quyết vấn đề để đi đến kết quả, giúp tạo lập cho học sinh thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềm say mê sáng tạo phát hiện, giải quyết vấn đề. Mục tiêu này rất quan trọng bởi trong cuộc sống các em gặp phải rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết.

- Buộc giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài  bài dạy. Gắn kết chặt chẽ nội dung bài dạy với những vấn đề thiết thực, gần gũi trong cuộc sống hàng ngày và thực tế địa phương. Chuẩn bị bài chu đáo, xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp, lô-gic, trọng tâm, có kiến thức thực tế, sâu rộng và các giải pháp liên hệ thực tế.

- Giáo viên nêu vấn đề hay câu hỏi xuất phát phù hợp là câu hỏi tương thích với trình độ nhận thức của học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức cho học sinh, kích thích nhu cầu  tìm tòi - nghiên cứu của học sinh.

- Giáo viên cần bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình (căn cứ chuẩn của chương trình cấp Tiểu học và đối chiếu với hướng dẫn thực hiện giảm tải của Bộ Giáo dục và Đào tạo).

- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ cho bài dạy nhằm lôi cuốn, hấp dẫn, học sinh dễ hiểu, dễ vận dụng. Sáng tạo, linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động lên lớp, phù hợp với với nội dung bài dạy, kiểu bài dạy, phù hợp với đặc thù bộ môn, tâm lí lứa tuổi học sinh.

- Tích cực nghiên cứu học tập, cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề áp dụng phương pháp dạy học đổi mới. Kết hợp các phương pháp dạy học tích cực, áp dụng phân chia nhóm hợp lí, sát đối tượng, hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh hăng hái tìm tòi phát hiện kiến thức mới.

- Tác phong cử chỉ, lời nói phù hợp, truyền cảm, thân thiện, khơi gợi sự hứng thú, chủ động tìm tòi, khám phá học tập của học sinh, động viên khuyến khích học sinh tự tin trong học tập, tạo cho học sinh sự say mê hứng thú đối với môn học.

- Cùng với giáo viên khác và đồng nghiệp trong tổ chuyên môn, nhà trường từng bước rút kinh nghiệm trong quá trình triển khai giảng dạy.

- Để ứng dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào dạy học, điều quan trọng nhất, như mọi vấn đề khác mà giáo viên thường phải giải quyết, đó là phải có đủ nhiệt huyết, quyết tâm để triển khai phương pháp mới.

Như vậy, vai trò của giáo viên rất quan trọng trong việc định hướng, gợi ý, giúp đỡ các em tự khám phá, tự đặt ra các câu hỏi để học sinh hiểu rõ được câu hỏi và vấn đề cần giải quyết của bài học, từ đó đề xuất các phương án thực nghiệm hợp lí.

     - Trong quá trình HS thực hành, GV phải khéo léo theo dõi, quan sát học sinh xem các em đang nghĩ gì về vấn đề mà mình đặt ra để nắm được tình hình. Nếu có điều gì không khớp với dự định ban đầu thì cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp.

    - Các biểu tượng HS đưa ra có thể đúng, có thể sai nhưng giáo viên không đánh giá và cũng không đưa ra câu trả lời. GV chỉ gợi ý hay đặt thêm những câu hỏi dẫn dắt HS đi tìm câu trả lời cho câu hỏi của chính các em chứ không làm thay. Ví dụ; “ Theo em, nó sẽ như thế nào”? “ Em nghĩ (làm) thử xem”? “Em tìm cách làm nào đó để xem có đúng không”?..... Ví dụ khi các em lọc nước mà kết quả vẫn đục GV chỉ gợi ý “ Các em thử xem thiết bị thí nghiệm có vấn đề gì không?” “ Xem lại các bước tiến hành lọc nước của các em”.....Trong trường hợp thí nghiệm cần đến các điều kiện, GV phải giúp các em xác định được điều kiện của thí nghiệm (Ví dụ: Về mặt thời gian, môi trường, nhiệt độ...). Điều này, bước đầu HS có thể gặp khó khăn nhưng thực hiện nhiều lần các em sẽ quen dần trong việc đặt điều kiện cho thí nghiệm để đảm bảo độ chính xác cao.

       * Tình huống xuất phát từ câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau :

     - Câu hỏi thường mang tính chất mở hoặc nửa mở phù hợp với mục tiêu bài học và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh sao cho các em có khả năng giải quyết.

     - Có tác dụng khêu gợi trí tò mò và ham hiểu biết khoa học, kích thích các em suy nghĩ và tiến hành giải quyết để đem lại những hiểu biết.

     - Câu hỏi phải gọn, rõ ràng, dễ hiểu, hạn chế những từ ngữ mang khái niệm mà các em chưa biết. Nếu có, GV nên tìm những từ ngữ thay thế sao cho vừa đảm bảo HS hiểu được vừa vẫn giữ nguyên được ý nghĩa của nó.

    - Khi nêu câu hỏi phải đảm bảo cho tất cả học sinh nghe và biết được mình cần phải làm gì.

     - Việc chuẩn bị các vật liệu, đồ dùng dạy học có ý nghĩa quan trọng. Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu không có đồ dùng dạy học thì không thể tiến hành được.

     - Đối với phương pháp Bàn tay nặn bột nếu chỉ dừng lại ở việc đánh giá bằng điểm số thì chưa đủ mà cần phải phối hợp đánh giá về năng lực quan sát, năng lực tư duy, khả năng suy luận và phán đoán, kỹ năng làm thí nghiệm, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt (kể cả trong khi nói và viết), sự hứng thú tìm tòi, sự tò mò ham hiểu biết, sự tham gia tích cực trong giờ học...Tất cả những điều đó nhằm kích thích, lôi kéo các em khám phá thế giới không ngừng, tạo ra sự cân đối ở các em giữa kiến thức và kỹ năng, giữa lý thuyết và thực hành.

   - Không chia nhóm HS quá đông, mỗi nhóm chỉ từ 2, 4 đến 6 em và từ hai bàn ghép lại.

     - Không nên cho HS biết trước kiến thức của bài học một cách tiêu cực mà phải để cho các em tự khám phá ra chúng. Không để các em sử dụng sách giáo khoa để trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra vì như vậy sẽ làm cho HS có thói quen ỷ lại không chịu suy nghĩ, tìm tòi trong học tập.Sách giáo khoa có thể chỉ được sử dụng làm tài liệu quy chiếu với các kết quả nghiên cứu của HS ở cuối tiết học.

     - Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học ở đề bài).

     - Lựa chọn hoạt động phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột để áp dụng, không nhất thiết hoạt động nào cũng áp dụng phương pháp này.

          Đó là những lưu ý đối với GV khi sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột vào giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này đạt hiệu quả hơn.

b. Học sinh

Học sinh có thể tiếp cận thực sự với tìm tòi, nghiên cứu và cố gắng để hiểu kiến thức. Vì vậy điều cần thiết là học sinh phải hiểu rõ câu hỏi hay vấn đề đặt ra cần giải quyết trong bài học.

- Để đạt được yêu cầu này, bắt buộc học sinh phải tham gia vào bước hình thành các câu hỏi. Có nghĩa là học sinh cần phải có thời gian để khám phá chủ đề của bài học, thảo luận các vấn đề và các câu hỏi đặt ra để từ đó có thể suy nghĩ về những gì cần được nghiên cứu, phương án thực hiện việc nghiên cứu đó như thế nào?

- Học sinh cần phải có nhiều kĩ năng như:  kĩ năng trả lời, đề xuất các dự đoán, giả thiết, phương án thí nghiệm, phân tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ các kết luận của mình thông qua trình bày nói hoặc viết… Một trong các kĩ năng quan trọng đó là học sinh phải biết xác định và quan sát một sự vật, hiện tượng nghiên cứu. Học sinh còn cần phải biết trao đổi với các bạn trong nhóm, biết viết cho mình và cho người  khác hiểu. Đối với học sinh  lớp 4 học sinh cần có các kĩ năng cơ bản  như phân tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ các kết luận của mình thông qua trình bày nói hoặc viết…

- Học sinh cần thiết phải tự thực hiện các thí nghiệm của mình phù hợp với hiện tượng, kiến thức, là cơ sở cho việc phát hiện và hiểu các khái niệm, đồng thời thông qua tự làm các thí nghiệm mà học sinh có thể tự hình thành kiến thức. Học sinh tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của giáo viên.

- Được khuyến khích đề xuất ý kiến và cùng các thầy cô giáo thực hiện các giải pháp để việc dạy học có hiệu quả ngày càng cao. Có tinh thần tự giác say mê đối với môn học, yêu thích môn học.

- Tích cực chuẩn bị bài, chuẩn bị tâm thế để lĩnh hội kiến thức bài giảng. Tích cực rèn luyện, hứng thú say mê trong học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức, dưới sự dẫn dắt của thầy, cô giáo. Phải rèn cho bản thân năng lực tự học, tự đánh giá.. Không ngừng vươn lên trong học tập

- Khi giáo viên tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ cho học sinh): học sinh hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết. Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêu dạy học và các nội dung cụ thể đã xác định.

* Các bước tiến hành trong một bài dạy

Các bước

Nhiệm vụ của HS

Nhiệm vụ của GV

Bước 1:

Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

 

- Quan sát, suy nghĩ.

 

 

- GV chủ động đưa ra một tình huống mở có liên quan đến vấn đề khoa học đặt ra.

- Câu hỏi nêu vấn đề đảm bảo ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu…

Bước 2:

Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh

- Bộc lộ quan niệm ban đầu nêu những suy nghĩ từ đó hình thành câu hỏi, giả thuyết. …..bằng nhiều cách nói, viết, vẽ. Đây là bước quan trọng đặc trưng của PP BTNB.

- GV cần: Khuyến khích HS nêu những suy nghĩ….bằng nhiều cách nói, viết, vẽ.

- GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ khác biệt.

- GV không nhất thiết phải chú ý tới các quan niệm đúng, cần phải chú trọng đến các quan niệm sai.

 

 

 

 

 

Bước 3:

Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

 

a. Đề xuất câu hỏi

- Từ các khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, HS đề xuất câu hỏi liên quan đến nội dung bài học.

- GV giúp học sinh đề xuất câu hỏi liên quan đến nội dung bài học.

- Kiểm soát lời nói, cấu trúc câu hỏi, chính xác hoá từ vựng của học sinh.

b, Đề xuất phương án thực nghiệm

- Bắt đầu từ những vấn đề khoa học được xác định, HS xây dựng giả thuyết.

- HS trình bày các ý tưởng của mình, đối chiếu nó với những bạn khác.

- GV đặt câu hỏi đề nghị HS đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đó.

 

 

- GV ghi lại các cách đề xuất của học sinh (không lặp lại).

- GV nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.

(Nếu HS chưa đề xuất được GV có thể gợi ý hay đề xuất phương án cụ thể. Chú ý làm rõ và quan tâm đến sự khác biệt giữa các ý kiến).

 

 

 

 

 

 

Bước 4:

Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu

HS hình dung có thể kiểm chứng các giả thuyết bằng nghiên cứu tài liệu.bằng… điều tra, thí nghiệm, (Ưu tiên  trực tiếp trên vật thật).

- HS sinh ghi chép lại vật liệu thí nghiệm, cách bố trí, và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay hình vẽ).

Nêu rõ yêu cầu, mục đích thí nghiệm sau đó mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm

- GV bao quát và nhắc nhở các nhóm chưa thực hiện, hoặc thực hiện sai…

- GV tổ chức việc đối chiếu các ý kiến sau một thời gian tạm đủ mà HS có thể suy nghĩ

- GV khẳng định lại các ý kiến về phương pháp kiểm chứng giả thuyết mà HS đề xuất.

- GV không chỉnh sửa cho học sinh

- HS kiểm chứng các giả thuyết của mình bằng một hoặc các phương pháp đã hình dung ở trên (thí nghiệm, quan sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu).

-Thu nhận các kết quả và ghi chép lại để trình bày

- GV tập hợp các điều kiện thí nghiệm nhằm kiểm chứng các ý tưởng nghiên cứu được đề xuất.

 

 

 

 

Bước 5:

Kết luận và hợp thức hoá kiến thức

 

 

- HS kiểm tra lại tính hợp lý của các giả thuyết mà mình đưa ra.

*Nếu giả thuyết sai: thì quay lại bước 3.

* Nếu giả thuyết đúng:

Thì kết luận và ghi nhận chúng.

 

 

- GV giúp HS phương pháp trình bày các kết quả.

- GV động viên HS và yêu cầu bắt đầu lại tiến trình nghiên cứu.

- GV giúp HS lựa chọn các lý luận và hình thành kết luận.

- Sau khi thực hiện nghiên cứu, các câu hỏi dần dần được giải quyết, các giả thuyết dần dần được kiểm chứng tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chính xác một cách khoa học.

- GV có trách nhiệm tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức bài học.

- GV khắc sâu kiến thức bằng cách đối chiếu biểu tượng ban đầu.

 

* Một số trích đoạn trong quá trình sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột của GV và HS trong dạy học Khoa học lớp 4.

Tôi xin nêu ra một số tình tiết ấn tượng trong quá trình giảng dạy môn Khoa học áp dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong chương trình Khoa học lớp 4 mà thầy và trò chúng tôi đã trải nghiệm trong thời gian qua.

* Ví dụ 1:Bài 30: Làm thế nào để biết có không khí?

- Giáo viên đưa ra một túi ni lông màu đen trong đó đựng đầy không khí (miệng của túi ni lông đã cột chặt) cho học sinh sờ nắn và bảo các em đoán xem trong túi này có gì?

* Học sinh sờ nắn và đưa ra các phương án:

- Không có gì.   ;    - Có nước .

- Có không khí

- Hơi của người thổi.

* Giáo viên mở túi ni lông ra để cho học sinh xác định rằng trong đó có không khí. Sau đó đặt vấn đề :

-  Theo các em, không khí có ở những nơi nào?

- Học sinh dự đoán:

- Không khí có ở khắp nơi.

- Không khí có trong cái chai rỗng,

 - Trong cục đất khô…..

* GV : Để biết được không khí có ở trong chai rỗng, trong miếng đất khô và có ở khắp nơi hay không, chúng ta cần phải làm gì?

- HS: Làm thí nghiệm.

- Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả, tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết quả.

* Thảo luận đưa ra kết luận chung: Xung quanh mọi vật và mọi chỗ, bên trong vật đều có không khí.

- Tự điều chỉnh kiến thức khoa học tìm được của mình vào vở thí nghiệm.

untitled1

Học sinh ghi kết quả tìm được vào vở thí nghiệm

 Trong khi học bài này, có em học sinh lúc đầu lựa chọn dùng viên gạch để bỏ xuống chậu nước. Nhưng sau đó em đã gạch bỏ sự lựa chọn này thay vào đó là mẩu đất khô. Sau giờ học, tôi hỏi vì sao lại có sự thay đổi dó, em nói “miếng đất khô có nhiều chỗ rỗng hơn nên khi bỏ vào nước thì bong bóng khí bay lên nhiều hơn... Có nhóm HS khác đã nghĩ ra một phương án thí nghiệm rất thuyết phục là” Nhấn chìm vỏ chai xuống một chậu nước, nước sẽ tràn vào trong chai đẩy không khí ra ngoài tạo ra những bong bóng. Có nhóm lại đưa ra phương án “ Vặn nắp chai thật chặt, sau đó đục một lỗ trên vỏ chai. Nếu chúng ta đưa lên và hướng lỗ thủng vào mặt và bóp thân chai thì sẽ cảm thấy được không khí từ trong đó bay ra”......

           Như vậy, qua kết quả trên ta thấy, điều đáng lưu ý và ấn tượng ở chỗ HS không chỉ đơn thuần thực hiện thành thạo với các dụng cụ thí nghiệm mà còn thể hiện sự thông minh, sáng tạo vận dụng linh hoạt trong việc đưa ra nhiều phương án để kiểm tra cùng một giả thuyết.

*Ví dụ 2:Bài 27: Một số cách lọc nước.

* Giáo viên đưa chai nước và nói: Đây là chai nước đã bị nhiễm bẩn. Vậy theo em trong chai nước này có những gì? (HS: Có cát bụi, đất, vi trùng, các chất độc hại…)

* GV: Chúng ta có thể làm sạch chai nước này được không? Bằng cách nào?...

- HS: Làm thí nghiệm.

- Đề xuất phương án thí nghiệm, tiên đoán kết quả, tiến hành thí nghiệm và báo cáo kết quả.

* Thảo luận đưa ra kết luận chung:…………………………………

          Tình huống có vấn đề ở chỗ:  sau khi lọc xong, kết quả nước ở cốc vẫn còn những hạt cát nhỏ. Các em đã phát hiện ra được nguyên nhân là giữa giấy thấm và cái phễu có chỗ hở. Cũng có nhóm học sinh  đã lọc nước bằng cách đổ nước bẩn (chưa lọc) vào chai thạch bích, sau đó dùng giấy thấm cuộn bông ở phía trong rồi nhét vào cổ chai và đục một lỗ trên đáy chai rồi chúc cốc xuống để lọc. Nhưng nước chỉ chảy được một lùc rồi dừng hẳn. Trong lúc cả nhóm đang loay hoay không biết làm thế nào thì một em đã biết đục thêm một lỗ khác trên đáy chai. Kết quả là nước lại chảy bình thường. Sau tiết học, tôi hỏi thì em trả lời “ Khi bố em đục hộp sữa ông Thọ, bố em đục hai lỗ. Bố em bảo làm như thế để không khí tràn vào làm sữa chảy ra nhanh hơn”.

          Điều đó chứng tỏ các em đã rất linh hoạt, đã biết xử lý khi thí nghiệm không thành công và đã biết vận dụng những gì quan sát được trong đời sống hàng ngày vào giải quyết những vấn đề trong học tập.

* Ví dụ 3:Bài 22: Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra? (Dùng tên của đầu bài làm câu hỏi).

* GV cho HS quan sát những đám mây trên bầu trời khi có mây và có mưa.

11055005-may1111055005-may111645-0

  GV cho HS quan sát tranh (tình huống xuất phát) nêu tình huống có vấn đề

- Đưa ra vấn đề “ Mây được hình thành như thế nào”? HS đưa ra dự đoán cá nhân hoặc của nhóm . Sau đó các em có thể đặt câu hỏi xung quanh vấn đề này là:

12212282_482222831964382_2058547728_n

Học sinh mạnh dạn nêu câu hỏi thắc mắc.

- Những đám mây có phải là khói không?

- Hơi nước bốc lên rồi nó đi đâu?

- Vì sao khi có nhiều mây thì có mưa còn ít mây thì khôn

- Liệu ở trên đó có lạnh không?

* Sau đó các em có thể đưa ra các giả thuyết sau:

- Các đám mây được hình thành là do khói.

- Có lẽ những đám mây đó là nước. Nhưng nếu là nước thì tại sao nó không rơi cả đám xuống vì nó rất nặng?

- Những đám mây đó là nước nhưng không biết nước đó từ đâu ra.

- Hơi nước bốc lên rồi ngưng tụ lại ở đó tạo thành mây vì nước có sự bốc hơi lên cao. Nhiều nơi bốc hơi như thế thành nhiều hơi nước và chúng gặp nhau ở trên đó.

* Cũng có thể các em cho rằng: Do hơi nước bốc lên gặp lạnh nó tạo thành mây. Sau đó các em đưa ra những phương án thí nghiệm là:

- Đổ nước nóng vào một cái bình rồi lấy một cái nắp đậy lại. Một lúc sau đưa ra quan sát thì thấy những giọt nước đọng lại ở dưới nắp.

  -Vật liệu  tôi cần là: 1 cái bình có nắp, nước nóng.

- Dùng một cốc thủy tinh trong đó đựng những cục nước đá. Để một khoảng thời gian nhất định ta thấy ngoài cốc xuất hiện những giọt nước li ti. Đó là hiện tượng hơi nước gặp lạnh tạo thành mây, ngưng tụ dần thành những giọt nước rồi rơi xuống gây ra mưa.

33+ Vật liệu  tôi cần là: 1 cốc thủy tinh, một ít cục nước đá  và một cái bát để đựng cái cốc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Học sinh chăm chú quan sát thí nghiệm.

          Với cách làm này, các em đã biết sử dụng vốn hiểu biết trong đời sống hàng ngày để vận dụng vào bài học một cách hiệu quả. Trong tiết học này, có nhóm học sinh đã viết ra vở ghi chép của mình phán đoán hiện tượng mưa “ trời mưa khi có nhiều mây đen”. Từ đó em đã đưa ra giả thuyết “ Vì vậy, các hạt mưa được rơi ra từ trong các đám mây”. Cũng trong bài này, một học sinh đã thắc mắc hỏi” Vì sao có khi trời lại mưa đá?”

Sau một hồi thảo luận, tranh cãi, các em đã giải thích “ chắc vì ở trên đó rất lạnh”…

           Điều đó chứng tỏ các em đã có sự suy luận lôgic và rất chính xác cũng nhờ cách học này mang lại.

* Ví dụ 4:Bài : Thực vật cần gì để sống?

* Vấn đề đặt ra là: “ Cây cần gì để sống”?

* HS có thể đặt câu hỏi xung quanh vấn đề này:

- Cây có ăn đất không?

- Cây lấy những gì ở trong đất?

- Cây có cần không khí và ánh sáng không?

- Cây có thể sống được mà không cần có nước?

- Vì sao người ta lại bón phân, tưới nước?

- Cây có thở không? Nếu chúng thở thì cây cũng cần không khí?

- Vì sao người ta nói, trồng cây trong bóng râm thì cây chậm lớn?

* Sau đó các em có thể đưa ra những hiểu biết ban đầu về nhu cầu của cây như sau:

- Cây không cần đất để sống.

- Theo tôi, cây không cần không khí để sống. Nó chỉ cần đất và nước thôi.

- Cây cần đất để sống. Bởi vì trong đất có nước và có những chất cây ăn được nhưng tôi không biết chúng là những chất gì.

- Có lẽ cây cũng cần ánh sáng.

- Cây không cần không khí vì cây không thở như người..v..v

Tóm lại, với việc sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột, thực hiện theo quy trình trên, tôi đã thu lượm được kết quả đáng khích lệ.  Kiến thức khoa học của bài cần cung cấp cho học sinh hoàn toàn đầy đủ và chính xác. Học sinh đã tự mình thực hành, tự mình tìm ra tri thức cần thiết, phù hợp với sự đổi mới hiện nay. Phương pháp này giúp học sinh hứng thú học tập, nhớ lâu đặc biệt là nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học : Hiếu động, tò mò, ham hiểu biết, có niềm tin tuyệt đối vào những gì mình tận mắt chứng kiến, tận tay làm ra và các em đã thể hiện xuất sắc trong quá trình tìm kiếm tri thức mới, tri thức khoa học.

Hiện nay, chương trình Bàn tay nặn bột đã được áp dụng tại một số quốc gia phát triển trên thế giới như Pháp, Mỹ, Canada... Bắt đầu từ năm học 2012-2013, Bộ GD&ĐT triển khai thí điểm phương pháp Bàn tay nặn bột  đối với các trường tiểu học tại cả 63 tỉnh, thành trên toàn quốc.Bàn tay nặn bột là một phương pháp giáo dục tiên tiến, giúp hình thành kiến thức và nhân cách cho trẻ em. Vì thế, nó không chỉ phát huy hiệu quả ở cấp Tiểu học mà còn có thể áp dụng cho các cấp giáo dục cao hơn. Hơn nữa, học sinh Việt Nam rất cần một chương trình như thế, bởi hiện nay các em đang thiếu kiến thức thực tiễn một cách đáng lo ngại.

"Bàn tay nặn bột" là phương pháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết. Giáo viên sẽ cho học sinh tiếp xúc với biều tượng ban đầu, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành nghiên cứu qua thực nghiệm. Nhờ đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ, và điều này sẽ góp phần không nhỏ trong sự hình thành tác phong và phương pháp làm việc của các em khi trưởng thành. Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác “Bàn tay nặn bột” luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên. Việc Vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong day học môn khoa học nói riêng và và các môn học khácgiúp học sinh hiểu rõ câu hỏi hay vấn đề đặt ra, kích thích nhu cầu tìm tòi nghiên cứu, cần giải quyết trong bài học, tạo sự hứng thú cho học sinh trong học tập là yếu tố tiên quyết để học sinh học tốt môn  Sinh học, vật lí, Hóa học, giúp các em có khả năng tự tìm hiểu, khám phá sáng tạo vận dụng kiến thức vào thực tiễn, góp phần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Các em thực sự hoạt động tích cực và đầy hứng thú. Nó giúp cho học sinh khả năng phát triển tư duy lôgic, trí tưởng tượng, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành và vốn ngôn ngữ khoa học, kèm theo sự vững vàng trong lập luận. Đó chính là những yếu tố quan trọng để giúp học sinh nắm bắt kiến thức để tìm tòi khám phá, phát huy tính tích cực của mình. Vậy theo tôi việc vận dụng phương pháp bàn tay năn bột vào giảng dạy là một việc làm vô cùng cần thiết để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục để thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức và kĩ năng thực hành vững vàng, chủ động, sáng tạo, tự tin để góp phần đưa  nước ta  đấy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế

 

Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 6
Hôm qua : 8
Tháng 10 : 146
Năm 2019 : 3.667